7

Tôi ôm tờ ngân phiếu hai mươi lạng đó lao về nhà, không dám nhìn cha, cõng Lương Đình lên lưng là lao thẳng đến y quán.

Một đôi tay của cha tôi sao có thể chạy kịp tôi?

Nhìn ông sốt sắng đi đến đầu phố, tôi vội vàng dập đầu một cái với đại phu, để lại một câu:

“Ông hãy chữa trị cẩn thận cho đệ đệ tôi.”

Quay đầu liền bỏ chạy.

Cha tôi kết nghĩa huynh đệ với đầu sỏ ăn mày trên con phố này, chỉ cần tiền đưa đủ, y quán sẽ không dám bắt nạt Lương Đình.

Tôi chạy về Túy Hoa Trai.

Liễu nương tử cho tôi ăn no, lại sai người bưng ba chậu nước tắm rửa sạch sẽ cho tôi, tôi thay bộ quần áo cũ của nàng, đeo một đôi khuyên tai bạc, đứng hát trước cửa quán rượu.

Lời hát là: “Rượu ngon, cơm thơm, trước cửa có một cô nương xinh đẹp; mắt lúng liếng, dáng điệu thướt tha, ôm nàng vào nhà thân mật âu yếm.”

Tôi vừa hát, vừa khóc.

Liễu nương tử không còn mang vẻ mặt tươi cười nữa, lấy cành liễu đánh mạnh vào lòng bàn tay tôi.

“Khóc cái gì mà khóc, xui xẻo! Làm hỏng chuyện làm ăn của lão nương, ta lột sạch quần áo của ngươi đưa sang ngõ kỹ viện bên cạnh bán đi!”

Tôi liền khóc cũng không dám khóc.

Làm tửu kỹ quá khổ, ban ngày không có khách mấy thì còn đỡ, ban đêm phải đứng từ lúc đèn mới lên cho đến canh ba mới được.

Mỗi quán rượu đều nuôi năm sáu tửu kỹ, ai có nhan sắc tốt và biết chiều chuộng, còn được vào trong nghỉ ngơi uống chén trà nóng, nếu có khách đích danh yêu cầu bồi rượu, còn có thể nhận được thêm hai đồng tiền.

Còn kẻ mới đến như tôi, tự nhiên phải làm công việc lạnh nhất mệt nhất, thấy trên đường có người đi qua liền phải hát điệu nhạc nhỏ vung vẩy ống tay áo, gió thơm thoang thoảng từ tay áo xông lên làm tôi buồn nôn.

Nhưng ở đây bao ăn bao ở, chịu đựng được thì cũng không khó khăn đến thế nữa.

Tôi chỉ là rất nhớ cha tôi, rất nhớ thiếu gia của tôi. Không biết ngài ấy đã chữa khỏi tay chưa…

Tôi cứ mê muội hồ đồ, mấy chục ngày trôi qua đã biến thành một hình nhân chỉ biết cười.

Ngày hôm đó, có một vị đại lão gia đích danh yêu cầu tôi bồi rượu, tôi làm sao từng uống thứ đó?

Hai ngụm trôi xuống, tôi ôm miệng chạy ra cửa nôn thốc nôn tháo.

Chính lúc đó tôi nhìn thấy thiếu gia nhà tôi.

Ngài ấy được một chiếc xe la chở ngang qua, quấn chiếc chăn bông rách của tôi, chằm chằm nhìn tôi không chớp mắt.

Tôi chưa từng thấy Lương Đình tuyệt vọng như vậy.

Ánh sáng trong mắt ngài sắp vụn vỡ rồi.

Cha tôi đi theo bên cạnh, rất nhiều người trong ngõ rượu đang chê cười hai người họ.

Tôi sợ hai người họ lạnh cóng, vội vàng kéo cả hai vào hậu đường ngồi xuống.

Lương Đình đau đớn đến sắc mặt nhợt nhạt, vậy mà vẫn nắm chặt tay tôi không buông.

“Đậu Hũ, về với ta, ta không chữa tay nữa.”

Tôi gượng cười: “Tôi không về đâu, ở đây có thể kiếm được nhiều bạc hơn.”

Ngài cắn chặt răng: “Ăn mày ngốc nghếch, muội có biết hay không, tửu kỹ cũng là xướng nữ.”

Tôi vội lắc đầu nói không phải vậy, tôi giải thích rằng tửu kỹ không cần bán thân, cùng lắm chỉ bồi khách uống rượu, bị sờ mó ngực và đùi hai cái, mỗi tháng còn có tiền boa để lấy.

“Tôi làm tửu kỹ, cả nhà chúng ta sẽ không phải chịu đói chịu rét nữa, cũng có thể tích góp tiền để chữa tay cho Lương Đình.”

Cha tôi hận nhất là kỹ viện, vác then cửa nhảy lên đánh tôi, tức đến mức sắp thổ huyết:

“Bị sờ ngực sờ đùi, không phải là điếm thì là cái gì! Lão tử dạy mày như thế này à? Một câu nhắn lại cũng không để lại! Lão tử tìm mày khắp kinh thành mấy ngày nay, mày lại ở đây làm xướng kỹ!”

“Thúc thúc! Thúc đừng đánh Đậu Hũ!”

Lương Đình quát lên, ổn định lại giọng điệu: “Thúc thúc ra ngoài nghỉ ngơi trước đi, cháu nói chuyện tử tế với Đậu Hũ.”

Nhưng ngài ấy không nói chuyện tử tế với tôi.

Cha tôi vừa đi, Lương Đình giơ một ống đũa lên, hung hăng đập thẳng vào bàn tay trái của chính mình.

May mà tiểu nhị bưng rượu nhanh trí, kêu ái chà một tiếng rồi đánh lệch cái ống đũa đi một chút, chỉ đập trúng vào vị trí lòng bàn tay.

Tôi sợ ngây người, khóc lóc nhào tới ôm chặt lấy cánh tay đó của ngài.

Lương Đình đau đến mức phát run, vậy mà vẫn run rẩy nói với tôi:

“Đậu Hũ, muội đừng cử động nữa, ta không đau.”

“Nhưng nếu muội ở lại đây, ta thà tự phế bỏ cái tay này của mình.”

“Phi phi phi!” Chưởng quỹ nương tử chê xui xẻo, lườm tôi một cái: “Lúc bán thân nói rõ ràng rồi, cầm tiền thì là người của ta, tiền gốc còn chưa kiếm lại được đã muốn đi, làm gì có chuyện tốt như vậy?”

Lương Đình đứng dậy, hành lễ với nàng.

“Liễu thẩm thẩm, ngài chắc hẳn nhận ra ta, ta là thiếu đông gia của lầu Thiên Hương, trước đây ngài từng cung cấp rượu cho nhà ta.”

Ánh mắt Liễu nương tử trước tiên là kinh ngạc, định thần nhìn kỹ người trước mặt, hồi lâu không biết nên hành lễ gì, bối rối nói:

“Hóa ra là Trình thiếu gia.”

Lương Đình nói: “Ngài biết đấy lạc đà gầy còn lớn hơn ngựa, ta là gặp nạn, nhưng sẽ không gặp nạn mãi mãi. Tiền bán thân của Đậu Hũ tổng cộng hai mươi lạng, ta tiêu hết năm lạng, mười lăm lạng này trả ngài, nợ ngài tiền ngài đợi ta ba tháng, ta cả gốc lẫn lãi trả cho ngài. Ta còn có thể dạy ngài làm sao để việc buôn bán của quán rượu ngày càng phát đạt.”

Ngài ấy rõ ràng mặc quần áo rách rưới, nhưng sức nặng trong lời nói lại rất kiên định vững vàng. …

Đêm tuyết đó, tôi cởi bỏ chiếc váy đẹp đẽ, mặc lại chiếc áo bông rách tươm.

Nước mắt chưa từng ngừng rơi, nhưng khóe miệng chưa từng hạ xuống lấy một khắc.

Lương Đình vịn tay tôi, đỡ lấy vai cha tôi, từng bước từng bước đi trên con đường về nhà.

Ngài nói với tôi: “Đậu Hũ, trên đời có vô số cách để kiếm miếng cơm manh áo, làm nô tỳ làm kỹ nữ là hạ lưu nhất, bước qua cánh cửa đó là không bao giờ quay lại được nữa, kẻ bước ra cũng không còn là muội nữa rồi. Chúng ta đi kiếm những đồng tiền sạch sẽ.”

8

“Mấy ngày nay ta luôn nghĩ, người nghèo sẵn sàng tiêu tiền vào đồ ăn gì nhất? Bánh bao bánh nướng ăn cho no, hoành thánh mì nước ăn ấm bụng, nhưng hấp bánh bao ai cũng biết làm, làm bánh nướng phải có lò, làm mì sợi phải có sức, cả ba thứ này đều không phù hợp với chúng ta. Chúng ta có thể mở một sạp hoành thánh, hoành thánh gói sẵn từ trước, trong nồi sôi ba lần là có thể bưng lên bàn.”

Tôi và cha ngây ngốc nghe ngài ấy nói, mắt to trừng mắt nhỏ.

Dựng một sạp nhỏ bán hoành thánh? Lương Đình sao dám nghĩ như vậy chứ?

Người thế nào mới dựng được sạp hàng?

Đó phải là người nhà có tiền nhàn rỗi, có tay nghề tử tế mới được, làm gì có ăn mày nào dám đi làm ăn buôn bán? Hơn nữa trong nhà nghèo rớt mồng tơi, chúng tôi đi đâu vay tiền mở sạp?

Tôi và cha giống như pháo nổ tịt ngòi, ngài một câu tôi một câu quấn lấy Lương Đình hỏi dồn dập.

Suy nghĩ của ngài rất rõ ràng, giải đáp cho chúng tôi suốt cả một buổi chiều, đôi mắt của tôi và cha ngày càng sáng lên, xoa tay chuẩn bị đi tìm đồ đạc dụng cụ.

Làm một sạp hoành thánh cần bao nhiêu tiền?

Ba mươi đồng.

Tôi mua một xấp giấy đỏ, một thỏi mực, tìm một chiếc đĩa vỡ để mài mực. Những thứ này, gộp lại tốn đúng ba mươi đồng.

Chúng tôi nhân lúc đêm tối trèo vào lầu Thiên Hương, trộm một chiếc nồi sắt lớn, trộm dầu muối tương dấm, trộm bát đũa thìa đĩa, trộm tạp dề và khăn trùm đầu.

Cha tôi mượn một chiếc xe đẩy tay của nhà hàng xóm, tháo một tấm ván cửa từ căn viện nát không có người ở cuối ngõ, cắt cưa đánh bóng, làm thành bàn cán mì và thớt thái rau.

Thế này, một sạp hoành thánh không cần dựng sạp, có thể đẩy đi bất cứ lúc nào, dừng lại ở bất cứ đâu đã hình thành.

Chỉ là tên sạp hàng, ba chúng tôi mỗi người một ý.

Cha tôi bảo gọi là “Sạp Cát Tường” đi, cho may mắn.

Tôi bảo gọi là “Sạp Phát Tài”, mong nhà ta sớm ngày phát tài lớn.

Lương Đình khẽ mỉm cười, ngay cả bút lông cũng không dùng, ngài dùng ngón trỏ làm bút, viết ba chữ lớn —— Sạp Sầu Nhân (Người buồn rầu).

“Sạp Sầu Nhân à Sạp Sầu Nhân, năm đồng tiền một bát lớn, chỉ cung cấp đồ ăn cho những người sầu khổ.”

9

Lương Đình không một chút do dự, đặt điểm bày sạp đầu tiên ở dưới cổng thành phía Tây.

Canh ba chúng tôi đã dọn hàng, đẩy xe đi suốt một canh giờ, đến nơi vừa đúng lúc cổng thành mở cửa.

Bên ngoài thành có vô số khách thương đang vội vã lên đường, còn có vô số nông phu gánh gồng vào thành.

Cha tôi nhóm lửa bắc nồi, tôi cán vỏ gói hoành thánh, Lương Đình đỏ mặt luyện tiếng rao.

Đợi đến khi nồi hoành thánh đầu tiên ra lò, quan sai vừa vặn cho nhóm người vào thành đầu tiên đi qua.

Lúc đó hoành thánh trên phố bán tám đồng một bát, bánh nướng ba đồng một cái, canh hoành thánh của chúng tôi bán năm đồng.

Trong hoành thánh thực ra không có mấy vụn thịt, thịt lợn quá đắt, giá thịt lợn mùa đông tăng vọt, thịt ba chỉ loại ngon đã lên tới tám mươi đồng một cân.

Nhưng vụn xương lợn và nội tạng thì rẻ, thịt gà cũng rẻ, trộn với hành trắng thái nhỏ làm nhân, gói thật chắc tay. Lại tưới thêm hai muôi nước dùng ninh từ mỡ lợn và khung xương gà, đừng nhắc tới nó thơm ngon đến mức nào.

Tôi và cha đau lòng muốn chết, nhà ai lại dùng xương rồng (xương sống lợn), mỡ lợn và khung xương gà để ninh canh chứ? Trên khung xương vẫn còn rất nhiều thịt đấy, vô duyên vô cớ tăng thêm bao nhiêu chi phí.

Lương Đình lại nói: “Đồ ăn nước, ba phần ở cái, bảy phần ở nước. Mỡ lợn nhuận táo, canh gà tăng hương vị, xương rồng giá rẻ, thêm một cục vào bát, khách ăn mới vui vẻ.”

Tôi và cha tức giận mà không dám nói, trơ mắt nhìn một nồi nước hầm thành màu trắng sữa, thơm đến mức cả hai không ngừng nuốt nước bọt.

Lương Đình chưa từng rao bán đồ vật, ngài ấy chính là không nỡ buông bỏ thể diện, mở miệng gọi khách cũng dùng ngôn từ nhã nhặn.

Những người đi vào thành giờ này đa số là dân lao động ít học, ai mà hiểu được ngôn từ nhã nhặn cơ chứ?

Tôi bèn vừa gói hoành thánh, vừa dạy ngài ấy gào:

“Canh hoành thánh đây, năm đồng tiền một bát canh hoành thánh, hoành thánh to lại thơm, một bát là ăn no!”

Những phu khuân vác bên đường ngoái nhìn.

Việc làm ăn của chúng tôi cứ như vậy mà khai trương.

Lương Đình là một phế nhân gãy tay, cha tôi là một phế nhân không chân, chỉ có tôi là đủ tay đủ chân, miệng mồm lanh lợi.

Khách ăn thường xuýt xoa:

“Tiểu cô nương không dễ dàng gì, hai người này là gì của cô thế?”

Tôi liền quay sang bên trái gọi một tiếng: “Cha.”

Quay sang Lương Đình gọi một tiếng: “Đây là đệ đệ của tôi.”

Lương Đình chỉ nhìn tôi một cái, im lặng thả hoành thánh xuống, muôi sắt nhẹ nhàng đẩy trong nồi, tạo thành từng vòng sóng nước lan tỏa.

Để lại bình luận